(CLO) Luật sư Bùi Văn Thành khẳng định: Một sự cố an toàn thực phẩm có thể đẩy doanh nghiệp và cả ngành hàng vào khủng hoảng.
Thời gian gần đây, hàng loạt vụ việc liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm bị cơ quan chức năng phát hiện, làm dấy lên lo ngại về chất lượng sản phẩm trên thị trường. Đáng chú ý, không ít vụ việc liên quan đến các doanh nghiệp lớn, có thâm niên hàng chục năm trong ngành, khiến niềm tin của người tiêu dùng tiếp tục bị bào mòn.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, Luật sư Bùi Văn Thành, Văn phòng Luật sư Mặt Trời Mới (NewSun), Phó Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu Công nghiệp Việt Nam khẳng định: Một sự cố an toàn thực phẩm có thể đẩy doanh nghiệp và cả ngành hàng vào khủng hoảng.

Một sự cố an toàn thực phẩm có thể đẩy cả ngành hàng vào khủng hoảng
Thưa ông, mới đây lực lượng chức năng phát hiện Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long sử dụng lợn chết, lợn nhiễm dịch bệnh trong quá trình sản xuất, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng. Đây là doanh nghiệp có quy mô lớn, sản phẩm được phân phối rộng rãi từ chợ truyền thống đến siêu thị. Ông đánh giá như thế nào về mức độ nghiêm trọng của vụ việc này và những tác động của nó đối với thị trường?
– Phải khẳng định rằng, việc Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long bị phát hiện nhập lợn chết, lợn bị dịch bệnh số lượng lớn để sản xuất đồ hộp đã gây hậu quả pháp lý và kinh tế rất nghiêm trọng. Câu chuyện này gợi nhớ đến vụ pate Minh Chay vào năm 2020.
Cả hai vụ việc này đã cho thấy, khi sự cố an toàn thực phẩm (ATTP) xảy ra, không chỉ dẫn đến thu hồi sản phẩm trên diện rộng, mà còn kéo theo hệ lụy pháp lý, thiệt hại kinh tế và tổn hại nghiêm trọng đến uy tín thương hiệu.
Do đó, tôi cho rằng, ATTP đã vượt xa phạm vi kỹ thuật sản xuất, trở thành vấn đề pháp lý – xã hội có tác động sâu rộng toàn xã hội. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp tăng cường tuân thủ yêu cầu ATTP và quản trị tốt rủi ro về ATTP.
Trong nền kinh tế hội nhập sâu, ATTP không còn là câu chuyện nội bộ của một doanh nghiệp, rủi ro pháp lý, rủi ro thị trường cho chính doanh nghiệp đó, mà còn có thể còn nhanh chóng bị đẩy thành khủng hoảng niềm tin của người tiêu dùng, đối tác, chuỗi cung ứng và đối với cả ngành hàng.
Thưa ông, khung pháp lý về an toàn thực phẩm của Việt Nam hiện nay được thiết kế theo cơ chế trách nhiệm đa tầng, từ hành chính, dân sự đến hình sự. Theo ông, cơ chế này đã đủ sức răn đe và phòng ngừa rủi ro vi phạm ATTP hay chưa?
– Khung pháp lý Việt Nam về ATTP thiết lập cơ chế trách nhiệm pháp lý đa tầng, bao gồm trách nhiệm hành chính, dân sự và hình sự.
Luật An toàn thực phẩm năm 2010 xác lập nguyên tắc cốt lõi là bảo vệ sức khỏe, tính mạng con người trong suốt vòng đời của thực phẩm. ATTP đóng vai trò là tuyến phòng vệ đầu tiên trước các nguy cơ ngộ độc cấp tính và các tác động mạn tính do thực phẩm gây ra.
Vì vậy, bảo đảm ATTP không chỉ là nghĩa vụ của doanh nghiệp, mà còn là lợi ích công cộng, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.
Cách tiếp cận phòng ngừa, kiểm soát rủi ro từ sớm này phù hợp với nguyên tắc y tế dự phòng và thông lệ quốc tế như HACCP, ISO 22000.
Thực tiễn xử phạt và xét xử cho thấy, trong các vụ việc vi phạm ATTP, cơ quan có thẩm quyền không chỉ xem xét hậu quả, mà còn đánh giá mức độ tuân thủ và hiệu quả vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp không xây dựng hoặc không vận hành hiệu quả hệ thống quản lý ATTP có nguy cơ đối mặt với mức chế tài nghiêm khắc hơn, kể cả khi hậu quả chưa xảy ra trên diện rộng. Doanh nghiệp cần nhìn nhận, ATTP là quản trị rủi ro pháp lý, chứ không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ hành chính.
Cần phải nói thêm rằng, trong thương mại quốc tế, ATTP là một trong những rào cản kỹ thuật quan trọng nhất của nước nhập khẩu.
Chỉ một sự cố liên quan đến thực phẩm không an toàn cũng có thể dẫn đến việc nước nhập khẩu tăng tần suất kiểm tra, thu hồi sản phẩm, thậm chí cấm nhập khẩu, không chỉ với doanh nghiệp vi phạm mà còn với toàn bộ ngành hàng và quốc gia xuất xứ. Như vậy, uy tín quốc gia bắt đầu từ từng doanh nghiệp.
Thực tế, các cảnh báo quốc tế về ATTP thường kéo theo hệ quả nhanh chóng và lâu dài, ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh quản lý nhà nước và uy tín quốc gia.

Bên cạnh chế tài nghiêm khắc cần đi kèm với các biện pháp phòng ngừa
Doanh nghiệp cần làm gì để không lặp lại “kịch bản Hạ Long”, thưa ông?
– Từ các vụ việc thực tiễn, có thể rút ra một số khuyến nghị then chốt cho doanh nghiệp. Thứ nhất, doanh nghiệp phải coi ATTP là vấn đề quản trị rủi ro pháp lý, không chỉ là chi phí tuân thủ đơn thuần.
Thứ hai, doanh nghiệp cần chủ động áp dụng các hệ thống quản lý dựa trên rủi ro như HACCP hoặc ISO 22000 để kiểm soát chuỗi, thay vì chỉ kiểm tra sản phẩm cuối cùng.
Thứ ba, doanh nghiệp cần xây dựng cơ chế truy xuất nguồn gốc, kế hoạch thu hồi và truyền thông khủng hoảng. Minh bạch và kịp thời thông tin là yếu tố then chốt để hạn chế lan rộng rủi ro pháp lý và khủng hoảng niềm tin.
Thứ tư, cộng đồng doanh nghiệp nên đào tạo thường xuyên nhân sự và rà soát tuân thủ pháp luật, coi đây là đầu tư cho phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, khi xảy ra vụ việc ATTP, nghĩa vụ minh bạch thông tin và trách nhiệm truyền thông có ý nghĩa không kém yếu tố kỹ thuật. Việc chậm trễ hoặc thiếu nhất quán trong cung cấp thông tin có thể làm trầm trọng thêm hậu quả pháp lý và xã hội, ngay cả khi chưa có kết luận cuối cùng của cơ quan chức năng.
Ở góc độ quản trị nhà nước, việc áp dụng chế tài nghiêm khắc chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm với các biện pháp phòng ngừa, đó là hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân thủ, tăng cường đào tạo, phổ biến pháp luật và thúc đẩy áp dụng các chuẩn mực quốc tế về ATTP.
Thực tiễn cho thấy, an toàn thực phẩm không chỉ là chuyện “đúng quy định”, mà là vấn đề sống còn về pháp lý, uy tín và năng lực cạnh tranh trong dài hạn. Cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý đều cần chuyển từ tư duy xử phạt sang tư duy phòng ngừa rủi ro pháp lý, bởi khi sự cố đã xảy ra, cái giá phải trả thường không dừng ở tiền phạt, mà là niềm tin thị trường và uy tín quốc gia.
Xin cảm ơn ông!
Theo báo Công Luận

